Ngày 31/05/2014 10:30:59
Hướng dẫn xác nhận thương binh, liệt sĩ không còn giấy tờ

1. Phạm vi, đối tượng áp dụng:

Thông tư này hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh đối với người hy sinh, bị thương trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu từ ngày 31/12/1991 trở về trước không còn giấy tờ.

Quy định này gói gọn Phạm vi, đối tượng áp dụng, nhằm tháo gở cho các đối tượng trước đây làm hồ sơ để xác nhận là liệt sĩ, thương binh nhưng không có giấy tờ để chứng minh.

2.Căn cứ để xác nhận liệt sĩ, thương binh

a. Căn cứ xác nhận liệt sĩ

- Danh sách liệt sĩ lưu tại cơ quan, đơn vị có ghi tên người hy sinh, hoặc giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước có ghi nhận là liệt sĩ hoặc hy sinh trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu.

Theo quy định này thì trên cơ sở hồ sơ, danh sách, hoặc giấy tờ có liên quan lưu tại đơn vị quản lý của người hy sinh nếu có ghi nhận liệt sĩ hoặc hy sinh trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu là cơ sở để xác nhận liệt sĩ.

- Người hy sinh đã được chính quyền và nhân dân suy tôn đưa vào an táng trong nghĩa trang liệt sĩ nơi hy sinh, được gắn bia mộ liệt sĩ từ ngày 31/12/1994 trở về trước.

Theo quy định này thì cơ sở để xác nhận liệt sĩ là người hy sinh phải được chính quyền và nhân suy tôn và được đưa vào an táng trong nghĩa trang nơi liệt sĩ hy sinh và được gắn bia mộ liệt sĩ thì được xem là cơ sở để xác nhận liệt sĩ.

b. Căn cứ cấp Giấy chứng nhận bị thương

Để được xác nhận là thương binh thì phải đảm bảo 02 căn cứ:

* Căn cứ chứng minh quá trình tham gia cách mạng

- Người thoát ly tham gia cách mạng hoặc hoạt động không thoát ly nhưng sau đó thoát ly tham gia công tác tại các cơ quan nhà nước phải có một trong các giấy tờ sau: lý lịch cán bộ; lý lịch đảng viên; lý lịch quân nhân; lý lịch công an nhân dân; quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc; hồ sơ bảo hiểm xã hội hoặc các giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước.

Trường hợp không còn một trong các giấy tờ nêu trên nhưng đã được hưởng trợ cấp theo các Quyết định sau đây của Thủ tướng Chính phủ thì thực hiện như quy định tại Điểm b Khoản này:

- Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg, ngày 11/4/2002 về chế độ đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống pháp đã phục viên (giải ngũ, thôi việc) từ 31/12/1960 trở về trước;

- Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg, ngày 08/11/2005 về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước;

- Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg, ngày 27/10/2008 về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương;

- Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, ngày 09/11/2011 về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc;

- Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg, ngày 20/8/2010 về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương.

- Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg, ngày 27/7/2011 về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến.

Đối với người hoạt động không thoát ly và sau đó không tiếp tục tham gia công tác tại các cơ quan nhà nước thì phải có bản khai chi tiết quá trình tham gia cách mạng, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

* Căn cứ chứng minh bị thương trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu

- Giấy tờ có ghi sức ép hoặc chấn thương; danh sách quân nhân bị thương (hoặc người bị thương) của cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng khi bị thương có ghi tên cá nhân bị thương;

- Giấy tờ, tài liệu của cơ quan, đơn vị lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước có ghi nhận cá nhân bị thương khi tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu. Trường hợp giấy tờ, tài liệu không ghi các vết thương cụ thể thì căn cứ vào kết quả kiểm tra vết thương thực thể của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền;

- Người bị thương thuộc lực lượng quân đội, công an có vết thương thực thể nhưng không còn danh sách quân nhân bị thương do cơ quan, đơn vị quản lý quân nhân khi bị thương đã giải thể hoặc không lưu giữ được.

Trường hợp không có vết thương thực thể nhưng còn dị vật kim khí trong cơ thể thì phải có kết quả chiếu, chụp và kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên hoặc bệnh viện quân đội, công an khẳng định còn dị vật kim khí trong cơ thể;

- Người không thuộc lực lượng quân đội, công an bị thương trong kháng chiến chống Pháp ở miền Nam và các chiến trường B, C, K và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện còn vết thương thực thể.

- Trường hợp còn dị vật kim khí trong cơ thể thì phải có kết quả chiếu, chụp và kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên hoặc bệnh viện quân đội, công an khẳng định còn dị vật kim khí trong cơ thể;

- Người không thuộc lực lượng quân đội, công an bị thương trong kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc và trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc hiện có kết quả chiếu, chụp và kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên hoặc bệnh viện quân đội, công an khẳng định còn dị vật kim khí trong cơ thể.

Đây là văn bản mới nhất nhằm tháo gở những khó khăn cho đối tượng liệt sĩ, thương binh và thân nhân của họ khi làm hồ sơ công nhận liệt sĩ, thương binh nhưng không còn giấy tờ chứng minh. Để được công nhận là liệt sĩ, thương binh các đối tượng và thân nhân các đối tượng trên phải đến Ủy ban nhân dân cấp xã để được hướng dẫn thực hiện các thủ tục công nhận liệt sĩ, thương binh theo thông tư liên tịch tư Số: 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP, ngày 22 tháng 10 năm 2013 thông tư liên tịch giữa Bộ Lao động – Thương binh & xã hội và Bộ Quốc phòng hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ.

Huỳnh Thanh Tuấn-TBXH


Các tin khác